Bạn đang ở mục CÁC CHUYÊN ĐỀ Tuyên giáo Công đoàn Bình Định 40 năm sau ngày giải phóng (1975 – 2015)



Công đoàn Bình Định 40 năm sau ngày giải phóng (1975 – 2015)

Email In
Trải qua 40 năm (1975-2015), đất nước cũng như tỉnh nhà đã có biết bao biến đổi tích cực, sâu sắc trên tất cả các mặt kinh tế, đời sống xã hội, được trải nghiệm qua thực tiễn cuộc sống và tất yếu không chỉ có thuận lợi mà đã vượt qua nhiều khó khăn, thử thách. Song có thể khẳng định rằng  công nhân lao động và tổ chức Công đoàn tỉnh nhà đã tỏ rõ một lòng một dạ trung thành, tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, phấn đấu không ngừng nhằm hoàn thành nhiệm vụ chính trị được Đảng bộ giao phó, xứng đáng với truyền thống cách mạng vẻ vang của giai cấp công nhân Việt Nam. Được thử thách, rèn luyện trong mọi hoàn cảnh, nhất là thời kỳ đổi mới đất nước, phong trào công nhân lao động trong tỉnh phát triển cả chiều rộng và chiều sâu; tổ chức Công đoàn, cán bộ Công đoàn ngày càng được trưởng thành về chất lượng và số lượng. Sau ngày giải phóng năm 1975 toàn tỉnh có 4.339 đòan viên, 2000 có 890 CĐCS với 36.000 đoàn viên đến năm  2015 có 1.509 CĐCS, NĐ với 77.143 đoàn viên.
                
Sau ngày giải phóng toàn tỉnh (31/3/1975), các cấp công đoàn khẩn trương tổ chức triển khai thực hiện có hiệu quả các nhiệm vụ trước mắt do Tỉnh ủy đề ra, phục vụ kịp thời chiến dịch Hồ Chí Minh.Tháng 10/1975, hợp nhất tỉnh Bình Định và tỉnh Quảng Ngãi thành tỉnh Nghĩa Bình, tổ chức công đoàn cũng được hợp nhất thành Công đoàn tỉnh Nghĩa Bình. Trong thời kỳ này nhiệm vụ trọng tâm là khắc phục hậu quả nặng nề do chiến tranh để lại, khôi phục sản xuất và phát triển kinh tế, giải quyết các vấn đề xã hội, mà cốt lõi là việc làm, đời sống và dân chủ cho CNLĐ. Vì vậy Công đoàn đã phối hợp chặt chẽ với chính quyền và các đơn vị chức năng tổ chức sản xuất, tập hợp, vận động CNLĐ thi đua lao động sản xuất và tiết kiệm, đảm bảo hiệu quả kinh tế và đời sống.
Từ năm 1976 đến 1986 là thời kỳ cả nước vừa đẩy mạnh sản xuất nhưng đồng thời khẩn trương tiến hành cải tạo XHCN trong nông nghiệp, công thương nghiệp tư bản tư nhân. Trước yêu cầu nhiệm vụ mới, Công đoàn đã kịp thời phân công cán bộ chịu trách nhiệm từng mảng công việc, ra sức bồi dưỡng cán bộ và nghiên cứu vận dụng các loại hình hoạt động công đoàn trong các cơ quan, xí nghiệp. Các phong trào thi đua: “3 cải tiến” trong các đơn vị sản xuất kinh doanh, “3 điểm cao” trong các cơ quan, đơn vị hành chính sự nghiệp, phong trào xây dựng tổ đội lao động xã hội chủ nghĩa… được phát động rộng rãi, đạt được nhiều thành quả nhất là đã xây dựng được một số cơ sở vật chất trong ngành thủy lợi, giao thông, đời sống  của cán bộ, viên chức tuy còn nhiều khó khăn nhưng không bị đảo lộn.
Sau 30 năm thực hiện đường lối đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo (tháng 12/1986 đến nay). Các cấp công đoàn đã đầu tư vào việc nghiên cứu, xây dựng và ban hành các nghị quyết, các đề án, chương trình hành động, kế hoạch thực hiện với bước đi, giải pháp cụ thể, hiệu quả thiết thực; nổi lên là đã chú ý tìm tòi, thử nghiệm việc đổi mới tổ chức, nội dung và phương thức hoạt động phù hợp với tình hình mới; rất coi trọng phát triển đoàn viên ra các thành phần kinh tế ngoài nhà nước, các hoạt động tuyên truyền các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước nhằm nâng cao giác ngộ nhận thức chính trị trong đoàn viên, CNLĐ; tổ chức họ vào các phong trào hành động cách mạng, khơi dậy tính tích cực, tự chủ, sáng tạo trong sản xuất và công tác, tìm tạo thêm việc làm để có thu nhập chính đáng, góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội, quốc phòng và an ninh của địa phương. Sau ngày tái lập tỉnh Bình Định (7/1989), Công đoàn tiếp tục vượt qua những thử thách lớn: Với chức năng tham gia quản lý Nhà nước, quản lý kinh tế, bảo vệ lợi ích chính đáng, hợp pháp của người lao động, Công đoàn đã quan hệ chặt chẽ với chính quyền cùng cấp bằng qui chế phối hợp tháo gỡ khó khăn, tổ chức lại sản xuất, giải quyết chế độ thoả đáng cho số lao động dôi dư, tạo điều kiện cho họ có cuộc sống tốt hơn. Các phong trào thi đua “Phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật, hợp lý hoá sản xuất”, phong trào “giỏi việc nước, đảm việc nhà”; phấn đấu hoàn thành nhiều công trình, sản phẩm mới; phong trào học tập nâng cao trình độ văn hóa, nghiệp vụ, tay nghề; thực hiện cuộc vận động “ trung thành, sáng tạo, tận tụy gương mẫu”, gắn với “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”; phong trào đảm bảo an toàn vệ sinh lao động, xây dựng cơ quan, đơn vị văn hóa, gia đình văn hóa và thực hiện đời sống văn hóa ở khu dân cư... xuất hiện nhiều điển hình tập thể và cá nhân tiêu biểu được biểu khen thưởng góp phần tích cực thúc đẩy nhiệm vụ kinh tế-xã hội của tỉnh phát triển toàn diện.
Từ thực tiễn phong trào CNVCLĐ và hoạt động công đoàn tỉnh 40 năm rút ra một số kinh nghiệm quý báu:
1- Sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố quyết định mọi thắng lợi của công tác công đoàn và phong trào công nhân lao động; quán triệt sâu sắc và vận dụng một cách nhuần nhuyễn các quan điểm, chủ trương của Đảng, kế hoạch của Nhà nước từng thời kỳ mà định ra nhiệm vụ và biện pháp công tác công đoàn một cách sát, đúng, sáng tạo. Thực tiễn cho thấy nơi nào cấp ủy Đảng quan tâm, tăng cường vai trò lãnh đạo của mình đối với tổ chức công đoàn, thì nơi đó hoạt động công đoàn có hiệu quả, phát huy tính chủ động, tích cực trong việc nắm chắc tình hình yêu cầu, nguyện vọng chính đáng của CNVCLĐ, phản ảnh với các cấp ủy đảng giải quyết kịp thời.
2- Hoạt động của công đoàn thường xuyên nắm vững chức năng vận động CNVCLĐ, làm tốt công tác tuyên truyền giáo dục, thay mặt CNVC-LĐ tham gia quản lý kinh tế, quản lý nhà nuớc; bảo vệ lợi ích hợp pháp chính đáng của người lao động. Mọi hoạt động của Công đoàn phải xuất phát từ mục tiêu, nhiệm vụ, chủ trương của Đảng, yêu cầu, nguyện vọng, lợi ích hợp pháp, chính đáng của CNVC-LĐ, vừa bảo vệ việc làm đúng của chủ doanh nghiệp tạo sự đồng thuận, ổn định và phát triển doanh nghiệp, hóa giải những khó khăn của doanh nghiệp, nhưng đồng thời công đoàn cũng kiên quyết đấu tranh buộc chủ doanh nghiệp thực hiện các yêu cầu đúng đắn của công nhân lao động, có như vậy mới thể hiện được bản lĩnh của công đoàn, mới thu hút được đông đảo CNLĐ tham gia các hoạt động công đoàn.
3- Công đoàn cần đặc biệt coi trọng việc đổi mới tổ chức, nội dung và phương thức hoạt động, theo hướng sát cơ sở và người lao động. Xây dựng tổ chức công đoàn vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức đúng với tính chất là tổ chức của giai cấp công nhân dưới sự lãnh đạo của Đảng, hết sức coi trọng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ đáp ứng với tình hình mới.
4- Có sự phối hợp, cộng tác, hỗ trợ của các cấp chính quyền và đoàn thể, thực hiện liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức. Phát huy tiềm lực CNVCLĐ thể hiện vai trò nòng cốt, đi đầu trong sự nghiệp đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước và xây dựng nông thôn mới.
                                                                       ThS.Nguyễn Ngọc Anh
                                                                       Phó Chủ tịch LĐLĐ tỉnh